Từ nhà trường đến đất nước xã hội chủ nghĩa - Kỳ II: Từ công bằng giáo dục đến năng lực làm chủ xã hội chủ nghĩa
Tóm tắt loạt bài (Sapo): Một dân tộc có thể bước qua chiến tranh bằng lòng quả cảm, nhưng chỉ có thể đi xa trong hòa bình bằng trí tuệ, kỷ cương và năng lực tự chủ. Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, con đường xây dựng và bảo vệ đất nước xã hội chủ nghĩa phải được bồi đắp và khơi nguồn một cách khoa học, đồng bộ ngay từ mái trường phổ thông. Loạt chuyên luận 3 kỳ này phân tích sâu sắc mối liên kết hữu cơ giữa giáo dục nhận thức lịch sử, công bằng cơ hội xã hội và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia dưới ánh sáng các quyết sách mang tính đột phá của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong bối cảnh cuộc cách mạng số và trí tuệ nhân tạo.
BÀI DỰ THI GIẢI BÁO CHÍ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG
(GIẢI BÚA LIỀM VÀNG) LẦN THỨ XI - NĂM 2026
LOẠT CHUYÊN LUẬN CHÍNH LUẬN 3 KỲ
“Từ nhà trường đến đất nước xã hội chủ nghĩa”
--Biến ký ức giữ nước thành năng lực dựng nước trong kỷ nguyên mới--
Tác giả: ThS - NCS. NGUYỄN TRUNG KIÊN
Đơn vị công tác: Ủy ban Nhân dân xã Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên
Thể loại: Chuyên luận; loại hình: Báo điện tử (Loạt bài 3 kỳ)
KỲ II:
TỪ CÔNG BẰNG GIÁO DỤC ĐẾN NĂNG LỰC
LÀM CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1. Hiện thực hóa lý tưởng xã hội chủ nghĩa bằng sự công bằng về cơ hội học tập
Nếu lịch sử giải thích nguyên nhân sâu xa vì sao Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thì giáo dục chính là nơi con đường ấy được minh chứng sinh động và rõ nét nhất bằng đời sống thực tiễn. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tái khẳng định vị thế: phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, bảo đảm nguồn lực và sự công bằng; trong đó giáo dục công lập đóng vai trò là cột trụ cốt lõi. Đây là cơ sở cốt tử để lý tưởng xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa thành cơ hội học tập bình đẳng cho mọi đứa trẻ, bất kể địa vị xã hội hay hoàn cảnh xuất thân.
Trong nền giáo dục định hướng xã hội chủ nghĩa, công bằng không có nghĩa là cào bằng hay phân phối bình quân chủ nghĩa. Việc ưu tiên tập trung nhiều nguồn lực đầu tư hơn cho những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa không phải là một đặc ân tạm thời, mà là giải pháp căn cơ để đưa quyền học tập từ trang nghị quyết vào đời sống thực tế. Ưu thế tuyệt đối của thể chế xã hội chủ nghĩa chính là khả năng huy động tập trung nguồn lực xã hội cho những mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia, kiên quyết không để quy luật lợi nhuận thị trường quyết định nơi nào được phép xây dựng trường học, hay để điều kiện kinh tế gia đình giới hạn tương lai tiếp cận tri thức công nghệ của một đứa trẻ.
Công bằng ấy đang được cụ thể hóa bằng những chính sách rất thiết thực. Nghị quyết số 248/2025/QH15 quy định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc từ năm học 2026-2027 và hoàn thành cung cấp miễn phí vào năm 2030. Nghị định số 271/2026/NĐ-CP xác lập cơ chế mượn - trả, tái sử dụng sách, ưu tiên triển khai sớm tại biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn đặc biệt khó khăn; từ năm học 2029-2030, mọi học sinh trên phạm vi toàn quốc được miễn phí sách giáo khoa. Giá trị của chính sách không chỉ là giảm chi phí cho gia đình, mà còn khẳng định sách giáo khoa là hạ tầng tri thức công. Để chính sách đi vào đời sống, thư viện trường phải đủ sách, dữ liệu mượn - trả phải chính xác và trách nhiệm bảo quản, điều chuyển phải rõ ràng.
2.2. Trường nội trú vùng cao và những “cột mốc mềm” giữ vững biên cương Tổ quốc.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị từ tháng 7 năm 2025 về việc đầu tư xây dựng hệ thống trường học tại 248 xã biên giới đất liền, Nhà nước đã triển khai giai đoạn một tại 108 trường nội trú liên cấp vùng biên, tập trung hoàn thiện hạ tầng để kịp thời đón học sinh ngay trong năm học mới 2026-2027. Theo Kế hoạch số 1710-KH/BGDĐT, sáng 5 tháng 9 năm 2026, cùng với lễ khai giảng năm học mới trên toàn quốc, các công trình trường học đủ điều kiện đã tổ chức khánh thành, bàn giao và đưa vào sử dụng. Sau những số liệu thống kê quy mô ấy là cả một tầm nhìn nhân văn: rút ngắn khoảng cách địa lý, bảo đảm dinh dưỡng, chỗ ở an toàn và mang lại cơ hội học tập liên tục cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số.

Ảnh minh họa: Toàn cảnh Trường PTNT Tiểu học và THCS Mường Khương giữa không gian vùng cao biên giới. Công trình được đầu tư trên diện tích gần 5 ha, với tổng mức đầu tư 255 tỷ đồng, đáp ứng quy mô 28 lớp, 980 học sinh. Ảnh: Trung tâm Truyền thông và Sự kiện - Bộ GD&ĐT.
Đồng hành cùng sự đầu tư kiên cố về cơ sở vật chất theo Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT nhằm biến các trường nội trú thành một hệ sinh thái chăm sóc toàn diện, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đội ngũ nhà giáo - những người trực tiếp thổi hồn vào các công trình. Tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, Bộ Chính trị đã đưa ra quyết sách mang tính đột phá, vượt trội chưa từng có: nâng mức phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhà giáo tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên mức tối thiểu 70% đối với giáo viên, tối thiểu 30% đối với nhân viên và đặc biệt là áp dụng mức phụ cấp 100% đối với giáo viên đang công tác tại các khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách đặc thù này thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc, tôn vinh và động viên kịp thời của Đảng đối với những cống hiến thầm lặng của đội ngũ người thầy, những chiến sĩ văn hoá nơi gian khó.
Mỗi ngôi trường nội trú vùng biên được xây dựng và vận hành tốt không chỉ dừng lại ở một công trình xây dựng hành chính, mà thực sự trở thành một “cột mốc mềm” vững chắc của văn hóa Việt Nam nơi biên cương. Nó không thay thế cột mốc chủ quyền địa lý hay người chiến sĩ biên phòng đang ngày đêm canh giữ đất trời, nhưng bồi đắp lòng dân, lòng tin yêu vào Đảng và vun bồi tri thức bền vững cho cộng đồng bản địa. Một học sinh đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng thành thạo tiếng Việt, trân trọng và bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, am hiểu lịch sử nước nhà và làm chủ công nghệ sẽ là cái rễ cắm sâu vào lòng đất quê hương để giữ đất, giữ rừng bền vững nhất. Đó chính là cách đầu tư cho giáo dục chuyển hóa thành sức mạnh quốc phòng, an ninh từ bên trong lòng dân.
2.3. Phòng học STEM và quyền tiếp cận tương lai số của học sinh
Nếu các trường nội trú liên cấp giúp học sinh vùng biên vượt qua những trở ngại về mặt địa lý, thì các phòng học trải nghiệm STEM giúp học sinh nghèo vượt qua khoảng cách về mặt công nghệ. Dưới sự phát động đầy ý nghĩa của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chương trình STEM Innovation Petrovietnam đã thần tốc triển khai thành công 105 phòng thực hành STEM hiện đại tại 34 tỉnh, thành phố với tổng kinh phí đầu tư lên tới khoảng 500 tỷ đồng, kịp thời phục vụ công tác giảng dạy.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của máy móc hiện đại chưa phải là kết quả cuối cùng của giáo dục sáng tạo. Một phòng STEM đắt đỏ sẽ trở nên lãng phí nếu bị khóa chặt cửa để tránh hư hỏng, thiếu giáo viên hướng dẫn chuyên sâu, thiếu học liệu thực hành hoặc thiếu thời gian để học sinh tự tay thí nghiệm sẽ không có kết quả tốt. Giá trị thực sự của giáo dục STEM chỉ xuất hiện khi học sinh được tự do đặt câu hỏi, thử nghiệm, chấp nhận thất bại và tự tìm cách sửa sai để tạo ra những sản phẩm sáng tạo nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn của cộng đồng địa phương (như dự án cảm biến theo dõi ô nhiễm tại các làng nghề truyền thống hay các giải pháp số hóa di sản văn hóa dân tộc). Khi những vấn đề thực tế bước vào lớp học, lòng yêu nước của học sinh sẽ không còn là một khái niệm trừu tượng, mà được chuyển hóa thành lao động trí tuệ, trách nhiệm tìm tòi giải pháp khoa học thực tế. Đây chính là con đường đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đi thẳng vào từng lớp học.
2.4. Chuyển đổi quản lý giáo dục: Từ quản lý hành chính sang quản trị sự trưởng thành
Sự thay đổi về hạ tầng, quy mô trường lớp đòi hỏi một phương thức quản lý hoàn toàn mới. Trong quá trình sắp xếp, sáp nhập mạng lưới trường phổ thông hiện nay, việc hợp nhất các cơ sở giáo dục không đơn thuần là việc tinh giảm cơ học các đầu mối, thu gọn bộ máy hành chính hay thay đổi tên gọi trên cổng trường. Sau sáp nhập, một nhà trường thường hoạt động phân tán trên nhiều phân hiệu, nhiều điểm trường với điều kiện cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ và văn hóa nhà trường không hề đồng đều. Hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 24 tháng 8 năm 2026 đã nêu rõ trách nhiệm của cán bộ quản lý trong việc thiết lập cơ chế điều hành thống nhất, ủy quyền khoa học và phối hợp chặt chẽ giữa trường chính với các phân hiệu. Thư gửi ngành Giáo dục đầu năm học 2026-2027 của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đặt ra yêu cầu trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình, giảm áp lực hành chính để thầy cô dành tâm sức cho chuyên môn và học trò.
Người hiệu trưởng thời kỳ mới phải chuyển đổi tư duy mạnh mẽ từ việc “quản lý một cơ sở hành chính” sang “quản trị một hệ sinh thái học tập thống nhất”. Tiêu chí tối cao để đánh giá sự thành bại của việc sắp xếp, sáp nhập trường lớp không phải là số lượng đầu mối bộ máy được cắt giảm, mà là khoảng cách cơ hội học tập giữa điểm trường chính và các phân hiệu có được thu hẹp một cách thực chất hay không và từng học sinh ở những phân hiệu vùng sâu, vùng xa có thực sự được chăm lo, nâng đỡ để phát triển tốt hơn hay không. Hệ thống hồ sơ, dữ liệu, sổ sách kế hoạch đều rất cần thiết, nhưng tất cả phải phục vụ cho mục tiêu cao nhất: sự trưởng thành toàn diện về đức, trí, thể, mỹ của học sinh đất nước xã hội chủ nghĩa.
